Menu
24 giờ khám phá thị trấn Selcuk cổ kính

Trên trục đường chính từ sân bay quốc tế Adnan Menderes (thuộc tỉnh Izmir) về Selçuk, làng cổ Şirince là điểm đến đầu tiên nằm ở phía đông của thị trấn. Şirince cũng là tên gọi hành chính của một xã thuộc huyện Selçuk, tỉnh İzmir, Thổ Nhĩ Kỳ. Ban đầu, khi được anh tài xế chở đến, chúng tôi chỉ ngờ ngợ đây là một trong những điểm đến thông thường của các tour du lịch. Sau đó, khi có dịp tìm hiểu kỹ hơn, tôi đã đi từ ngỡ ngàng này đến ngỡ ngàng khác.

Làng cổ Şirince tuy được khách thập phương biết đến những năm gần đây, nhưng địa danh này đã có lịch sử từ thời Hy Lạp (khoảng năm 323 - 31 TCN). Người ta kể rằng, ngôi làng từng là nơi định cư của những nô lệ Hy Lạp được trả tự do. Khi ấy, họ đặt tên làng là Çirkince (nghĩa là “xấu xí”) vì không muốn các đối tượng khác nhòm ngó hay đi theo họ. Nhiều năm sau, du khách đến đây và phát hiện ra vẻ đẹp hiếm có của ngôi làng, đã đổi tên thành Şirince (nghĩa là “xinh đẹp”). Vào khoảng tháng 12 năm 2012, khi người dân trên toàn thế giới hoang mang vì tin đồn ngày tận thế sắp ập đến, hàng nghìn du khách đã kéo về đây vì cho rằng, một năng lượng thần bí ở Şirince sẽ giúp họ thoát khỏi thảm họa. Şirince trở thành nơi trú ẩn an toàn của khách du lịch khắp nơi. Cũng chính từ sự kiện này, ngôi làng cổ bình yên trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới.

Tuy vậy, khung cảnh ở Şirince vẫn giữ được nét hoang sơ, nếp sống của người dân vẫn đơn sơ, chất phác. Dân số tính đến hiện tại chỉ có khoảng hơn 600 người, chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp (sản xuất rượu vang, ô liu, thuốc lá, rau quả,…) và thủ công. Sau khi xuống xe ở bãi giữ xe dành cho khách du lịch, choàng máy hình vào cổ, dắt tay vào túi áo, bạn có thể tản bộ chậm rãi để nhìn ngắm khung cảnh nên thơ và tận hưởng không khí trong lành của vùng đồi núi này. Tất cả các con đường trong làng đều được lát đá thô sơ nhưng sạch sẽ, vững chãi. Hầu hết tường nhà cũng được tạo nên từ những tảng đá đủ kích cỡ được xếp chồng lên nhau. Trên cung đường khám phá, có nhiều đoạn là bậc thang dẫn bạn đi dần lên những vị trí cao hơn, phù hợp với địa hình thoai thoải của làng. Nhìn toàn cảnh, ngôi làng có một cấu trúc tầng bậc, những ngôi nhà nằm thấp thoáng giữa những rặng cây thay lá theo mùa quanh năm.

Hai bên đường vào làng là các cửa hàng rượu, nông sản, đồ lưu niệm hoặc sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Nhìn dáng vẻ “rặc nét Châu Á” của chúng tôi, nhiều ông bà chủ nhiệt tình “Nǐ hǎo, Nǐ hǎo” bằng chất giọng ồm ồm của người Thổ Nhĩ Kỳ. Rải rác trên các con đường, có những người phụ nữ trùm khăn kín mặt, ngồi thêu thùa, may vá, đan lát. Xung quanh họ bày bán những mặt hàng nhỏ nhắn, đầy màu sắc. Đi lên cao một chút, bạn sẽ bắt gặp tiếng nhạc phát ra từ những quán café, nhà hàng nhỏ quanh các ngôi nhà của cư dân trong làng. Càng dạo bước, tôi càng cảm thấy khủng cảnh ấy vừa quen vừa lạ. Không khí, cảnh vật, con người ở đây rất giống với những ngôi làng mộc mạc ở trị trấn Sapa nhỏ bé của Việt Nam thân thương.

Ở điểm cao nhất của ngôi làng là nhà thờ thánh John the Baptist (Vaftizci Yahya Kilisesi) của những người theo đạo Chính thống. Công trình này có từ năm 1805 nhưng sau đó đã bị bỏ quên trong nhiều thập kỷ. Hiện tại, nhà thờ được dùng để tổ chức các buổi triển lãm từ thiện. Phía trước nhà thờ là một khoảng sân nhỏ với vài cửa hàng xung quanh. Chính giữa sân là hồ nước đặt tượng Theotokos Miriam, cách gọi tên Đức Mẹ theo Chính thống giáo. Khách du lịch có thể ném những đồng xu kèm theo lời nguyện ước của mình. Đây là một trong hai nhà thờ quan trọng của dân cư trong làng. Một nhà thờ khác là nhà thờ Thánh Demetrios (Aziz Dimitrios Kilisesi) nằm trên một cầu thang gần lối vào làng.

Ảnh làng cổ Sirince

Cách làng Şirince khoảng 8km là thành cổ Ephesus, thuộc Hy Lạp cổ đại, cũng là thành phố lớn thứ ba thuộc vùng Tiểu Á của La Mã. Trải qua nhiều thời kỳ cùng với những biến cố thăng trầm của lịch sử, hiện nay Ephesus thuộc phía Tây Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Mãi đến năm 1863, phế tích Ephesus mới được tìm thấy. Hàng loạt công trình cổ đại của Ephesus đã được khám phá. Nhưng theo một số tài liệu, cho đến hiện nay, các nhà khảo cổ học cũng chỉ mới khai quật được khoảng 15%. Năm 2015, Ephesus được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

Hàng loạt công trình cổ đại của Ephesus hiện nay đều nằm trên con đường trải dài hơn 3km, gồm có cung điện, quảng trường, nhà hát, thư viện, sân vận động,... Chuyến viếng thăm bắt đầu từ đại lộ chính của Ephesus thênh thang với mặt đường và hai hàng cột đều là đá cẩm thạch. Bên trái là khu nhà hát lớn ngoài trời được xây dựng theo kiến trúc La Mã cổ đại, có sức chứa lên đến 25.000 chỗ ngồi. Ngoài ra, đền thờ Hadrian được xây từ thế kỷ thứ II để thờ vị minh quân Hadrianus của đế quốc La Mã. Ngày nay, đền Hadrian chỉ còn lại những cột trụ, phía trên được trang trí các bức phù điêu nổi. Cách chừng 500m, thư viện cổ Celsus gồm 2 tầng, xưa kia là nơi lưu trữ hơn 12.000 đầu sách, là công trình đồ sộ với thiết kế vô cùng tinh xảo. Từ mặt trước thư viện, bạn có thể nhìn thấy 4 hốc tường với các bức tượng là biểu tượng cho nhân cách của con người gồm Arete – Sự dũng cảm, Ennoia – Trí tuệ, Episteme – Tri thức và Sophia – Sự thông thái. Nằm gần thư viện còn có đền thờ Artemis, nữ thần săn bắn. Ngôi đền là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Ngôi đền linh thiêng này tưởng chừng sẽ tồn tại mãi cho đến năm 356 TCN, Herostratus, một kẻ cuồng danh đã đốt đền, hắn khiến quan tòa xét xử ngỡ ngàng khi thừa nhận việc mình đốt đền chỉ vì muốn được lưu danh sử sách. Trải qua hàng trăm năm, công trình này từng bị vùi lấp dưới đầm lầy không dấu vết cho đến đầu thế kỷ XIX, khi các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật thành phố Ephesus và tìm thấy móng của ngôi đền cổ dưới một lớp phù sa dày tận 6m. Ngày nay, đền Artemis chỉ còn sót lại vài cột đá của đền thờ cổ.

Liên quan đến Công giáo, đây là một trong bảy giáo hội Tiểu Á được nêu trong sách Khải huyền. Thánh Phaolo đã sống tại Ephesus, làm việc với các giáo đoàn và sau này viết các thư gởi các tín hữu. Ngoài ra, công đồng Ephesus, công đồng chung thứ ba của Kitô giáo, cũng từng được diễn ra tại đây.

Người ta tin rằng Thánh Gioan Tông đồ đã viết sách Khải huyền trên đảo Patmos, trải qua những năm cuối cùng ở gần Ephesus và khi qua đời (khoảng năm 100), ngài được chôn cất tại sườn phía nam đồi Ayosolug. Đến thế kỷ thứ IV, các Kitô hữu tại Ephesus xây một nhà nguyện bên trên phần mộ của thánh nhân. Sau đó, khoảng thế kỷ thứ VI, dưới thời Hoàng đế Justinianô, ông đã cho xây dựng một nhà thờ lớn hơn gọi là Vương cung thánh đường Thánh Gioan. Tuy vậy, trải qua những năm điêu tàn của Ephesus, hiện nay khu vực này chỉ còn lại một khoảng nhỏ, có tấm bia với nội dung cho biết đây là mộ phần của ngài. Trước đó, vào thập niên 90 của thế kỷ XXI, các đội ngũ khảo cổ học đã tìm được mộ phần của thánh Gioan bên trong. Tuy nhiên, ngôi mộ hoàn toàn trống, cho đến nay không ai biết hài cốt của ngài bị thất lạc ở đâu.

Thành cổ Ephesus tuy chỉ còn lại tàn tích nhưng sức hấp dẫn về mặt văn hoá tinh thần vẫn không hề thay đổi. Vẻ đẹp hoài cổ của những phế tích nơi đây đã giữ chân du khách đến thăm thành phố này.

Từ Ephesus, bạn tiếp tục di chuyển về phía Nam, đi qua rất nhiều cánh đồng hoa màu, nông trại, nhà máy; sau đó lại leo qua nhiều quả đồi, thêm mấy con đèo ngoằn nghoèo. Ở đây, thỉnh thoảng bạn sẽ gặp một chiếc máy cày chạy bon bon, hoặc tự nhiên xuất hiện một chiếc xe máy chở đầy những sọt hoa quả băng ra từ trong con hẻm nhỏ nào đó. Cách Ephesus chừng 7 cây số, nhà Đức Mẹ nằm trên núi Koressos (tên khác là “Bülbüldağı”, nghĩa là “Núi chim họa mi” trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ).

Theo Kinh thánh, Chúa Giêsu khi bị đóng đinh trên thập giá đã trao phó Mẹ Maria cho Thánh Gioan chăm sóc. Người ta cho rằng, có thể Thánh Gioan đã đưa Đức Maria đến sống những năm cuối đời ở đây. Ngôi nhà này được phát hiện vào khoảng thế kỷ XIX, theo thị kiến của nữ tu Anne Catherine Emmerich, người được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Chân phước ngày 03/10/2004. Nữ tu người Đức thuộc dòng Thánh Augustinô, trong những năm bạo bệnh cuối đời, đã liên tục chịu đựng nỗi đau thể xác và nhận được nhiều thị kiến liên quan đến cuộc đời Chúa Giêsu, Đức Maria và căn nhà này. Sau đó, nhà văn người Đức, Clemens Brentano, cũng là một tu sĩ dòng Đa Minh, trong nhiều năm đã ghi lại toàn bộ tường thuật của vị nữ tu và xuất bản thành sách, trong đó có ghi chú rất rõ các chi tiết liên quan đến ngôi nhà Đức Mẹ cùng những chỉ dẫn đường đi đến địa danh này. Nhiều năm sau, một linh mục người Pháp, tu sĩ Julien Gouyet, đã quyết định đi đến khu vực thành phố Ephesus cổ để tìm hiểu về những điều được kể trong cuốn sách. Tại địa điểm được cho là trùng khớp với mô tả trong sách nhất, người ta phát hiện một ngôi nhà nhỏ bằng đá, nằm trên một ngọn núi nhìn xuống biển Aegea (thuộc Địa Trung Hải).

Thực ra nơi này chưa hề được nhắc đến trong Kinh Thánh, nhưng theo nhiều chứng cứ lịch sử và trải qua nhiều cuộc tranh cãi, hiện tại, địa danh này đã trở thành điểm hành hương của nhiều tín hữu Công giáo và cả những tín hữu thuộc tôn giáo khác nhưng đều có một lòng tôn kính đặc biệt dành cho Đức Mẹ. Căn nhà gồm một phòng lớn, có bàn thờ cùng bức tượng Đức Maria được đặt ở chính giữa, hiện đang được dùng làm nhà nguyện. Phía bên phải căn phòng có một phòng nhỏ hơn, nơi được cho từng là phòng ngủ của Đức Maria. Ánh đèn vàng nhạt hòa với ánh sáng tự nhiên hắt vào từ phía trên mái nhà khiến không gian trở nên ấm cúng yên bình bao phủ toàn bộ căn nhà.

Ở bên ngoài nhà Đức Mẹ, có một bức tường treo rất nhiều mẫu giấy, hoặc khăn, hoặc vải ghi lời nguyện ước của tất cả những người từng đến viếng thăm. Khách hành hương cũng thường uống nước từ một dòng suối chảy qua cạnh ngôi nhà, nối với 3 vòi nước, tương truyền là ứng với các ơn khác nhau, nhưng các vòi nước không gắn nhãn, người uống vào sẽ nhận được các ơn bất kỳ như sự giàu có, sức khỏe hoặc khả năng sinh sản.

Chúng tôi may mắn gặp được một nữ tu đang sống và trông coi nhà Đức Mẹ, sau đó cả nhóm được cử hành một thánh lễ đặc biệt ngay trong nhà nguyện của nhà dòng. Sau thánh lễ, chúng tôi phát hiện ra phía trong phòng áo có đặt một cuốn sổ ghi chép, những đoàn khách đến đây hành hương đều để lại thông tin về nơi họ đến, ngày tháng và số lượng người tham dự. Lần dở lại cho đến trang đầu tiên của cuốn sổ, chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng và xúc động không thể tả khi nhóm 5 người chúng tôi là nhóm người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến đây.

Trở về sân bay tỉnh Izmir, trong lúc nằm vật vã đợi chuyến bay tối ghé Istanbul, trước khi bay một mạch về Việt Nam, tôi cảm thấy biết ơn vì chuyến đi ý nghĩa này. Kết thúc hành trình ngắn ngủi, chúng tôi vừa háo hức vì đã được đến những địa danh lịch sử mà có lẽ, nếu không có dịp này, cả đời tôi chưa chắc có cơ hội biết đến chúng tận mắt; lại vừa nuối tiếc vì giá như mình biết đến nó sớm hơn, cả nhóm sẽ có thêm thời gian tìm hiểu và khám phá tường tận những kỳ quan tuyệt vời của tạo hóa.

Bài viết : Nguyên Nhi
Thiết kế : Ban Biên tập